Cục Hàng không nói về đề xuất VNA là hãng nội địa duy nhất khai thác sân bay Long Thành

Thông tin từ cuộc họp báo cáo đầu kỳ công tác khảo sát và lập báo cáo nghiên cứu khả thi giai đoạn 1 dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành (sân bay Long Thành) cuối tuần qua cho biết: Liên quan đến việc phân chia khai thác giữa sân bay Long Thành và sân bay Tân Sơn Nhất, cơ quan tư vấn JFV khuyến nghị sân bay Long Thành sẽ đảm nhiệm 85% chuyến bay quốc tế (gồm các chuyến bay quốc tế của Vietnam Airlines và các hãng hàng không nước ngoài) và 12% chuyến bay quốc nội của Vietnam Airlines (đường bay TP HCM – Hà Nội và TP HCM – Đà Nẵng). Các hãng hàng không khác trong nước như: Vietjet Air, Jetstar Pacific, Bamboo Airways (nếu có), Vasco sẽ chỉ khai thác ở sân bay Tân Sơn Nhất.

Cục Hàng không nói về đề xuất VNA là hãng nội địa duy nhất khai thác sân bay Long Thành - Ảnh 1.

Phương án thiết kế sân bay Long Thành

Cục Hàng không Việt Nam và Tổng Công ty Cảng hàng không Việt Nam – ACV đã triển khai lấy ý kiến các hãng hàng không trước khi hoàn chỉnh lại báo cáo.

Sau khi có thông tin trên, nhiều ý kiến cho rằng nếu khuyến nghị của JFV được thông qua, sau khi sân bay Long Thành hoàn thiện giai đoạn 1, việc sẽ chỉ có duy nhất một hãng hàng không nội địa là Vietnam Airlines được quyền hoạt động tại sân bay này là “một mình một chợ”.

Tuy nhiên, trao đổi với Báo Người Lao Động, một chuyên gia cho rằng “một mình một chợ” trong trường hợp này chưa hẳn là được ưu ái. Khi chuyển khai thác sang một sân bay mới, nghĩa là hãng hàng không phải đưa cả hệ thống nhân sự, bảo dưỡng, kỹ sư, kỹ thuật… túc trực. Trong khi đó, so với sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay Long Thành ở xa trung tâm hơn, giao thông kết nối chưa hoàn thiện, phương tiện di chuyển, thói quen đi lại của hành khách…

Trao đổi với Báo Người Lao Động ngày 24-10, ông Võ Huy Cường, Phó cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam – Bộ Giao thông Vận tải (GTVT), cho biết ngày 23-10, Cục Hàng không đã tổ chức họp lấy ý kiến của các hãng hàng không về vấn đề này. Đây là lần thứ 4 có cuộc họp xin ý kiến các hãng hàng không về nội dung này.

“Các hãng hàng không đều đã nghiên cứu và có ý kiến. Mỗi hãng có một nhu cầu riêng, quản lý nhà nước và đơn vị tư vấn phải xem xét đánh giá và chọn một phương án tối ưu”- ông Cường cho biết.

Cũng theo ông Võ Huy Cường, Cục Hàng không đang tổng hợp ý kiến các hãng và dự kiến sẽ báo cáo Bộ GTVT trong tuần này để đầu tuần sau Bộ có văn bản gửi đơn vị tư vấn nghiên cứu. Trên cơ sở ý kiến đó, đơn vị tư vấn sẽ nghiên cứu, báo cáo lại và sau đó mới đi đến quyết định.

“Các bên vẫn đang nghiên cứu và chưa có quyết định gì. Về mặt quản lý Nhà nước phải xem xét, đánh giá tất cả các nhu cầu, sau đó sẽ có quyết định cụ thể”- ông Cường khẳng định

Là người chủ trì cuộc họp báo cáo đầu kỳ công tác khảo sát và lập báo cáo nghiên cứu khả thi giai đoạn 1 dự án sân bay quốc tế Long Thành, Thứ trưởng Bộ GTVT Lê Đình Thọ trong trao đổi với Báo Người Lao Động cho biết đây là phương án đang trong giai đoạn nghiên cứu, tìm hiểu để phân bổ lại nguồn lực, nên ông chưa có bình luận gì.

Sân bay Long Thành (huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai) được đầu tư xây dựng để đạt cấp 4F với công suất 100 triệu hành khách/năm và 5 triệu tấn hàng hóa năm trên tổng diện tích 5.000 ha. Tổng mức đầu tư là 336.630 tỉ đồng (tương đương 16,06 tỉ USD, áp dụng tỉ giá của năm 2014).

Dự án sân bay Long Thành gồm 3 giai đoạn. Giai đoạn 1: Đầu tư xây dựng 1 đường cất hạ cánh và 1 nhà ga hành khách cùng các hạng mục phụ trợ đồng bộ với công suất 25 triệu hành khách/năm, nhà ga hàng hóa 1,2 triệu tấn hàng hóa/năm; chậm nhất năm 2025 hoàn thành và đưa vào khai thác.

Theo báo cáo của Chính phủ về tình hình triển khai thực hiện dự án sân bay Long Thành vừa gửi Quốc hội trong tháng 10-2018, với tiến độ thực hiện giai đoạn 1 dự án sân bay Long Thành, chủ đầu tư – Tổng Công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) – đã ký hợp đồng lập báo cáo nghiên cứu khả thi (F/S) với tư vấn JFV, gồm các công ty tư vấn JAV (của Nhật Bản) – APDi (cộng hòa Pháp) – Nippon Koei (Nhật Bản) – OC Global (Nhật Bản) – ADCC (Việt Nam) – TEDI (Việt Nam). Đồng thời, tư vấn JFV cũng đã ký hợp đồng thầu phụ đặc biệt với tư vấn HEERIM của Hàn Quốc (tác giả của phương án kiến trúc “Hoa Sen”) về việc lập thiết kế cơ sở nhà ga hành khách.

Theo kế hoạch, đến tháng 7-2019, tư vấn sẽ hoàn thành F/S, đến tháng 10-2019 sẽ trình Quốc hội thông qua dự án. Sau đó, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt dự án vào tháng 12-2019.

Những xu thế chính của dòng vốn FDI tại châu Á

FDI vào châu Á chỉ biến động nhẹ mặc cho FDI toàn thế giới giảm rõ rệt trong năm 2017

Theo dữ liệu của cán cân thanh toán tiêu chuẩn, FDI toàn thế giới năm 2017 giảm 23,4%, đạt mức 1,4 nghìn tỷ USD. 

Nguyên nhân của sự sụt giảm này là từ việc cắt giảm FDI từ các nước phát triển, do tỷ suất lợi nhuận trên FDI thấp, mở rộng sản xuất quốc tế hạn chế và môi trường kinh tế thế giới không ổn định đã phần nào làm các nhà đầu tư nản lòng. Vốn FDI chỉ có sự tăng nhẹ tại các nước đang phát triển.

Tuy vậy, châu Á vẫn thu hút được 517,5 tỷ USD FDI trong năm 2017, chỉ giảm 0,5% so với năm 2016. Theo sau Trung Quốc trong top những quốc gia nhận được nhiều FDI nhất là Hồng Kông, Singapore, Australia và Ấn Độ.

Trong khi đó, số liệu hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp, cho thấy cả những vụ sáp nhập, mua lại và đầu tư mới FDI vào châu Á đều giảm đột ngột trong năm 2017 với số lượng 9,3% so với cùng kì năm 2016, trong khi giá trị danh nghĩa của đầu tư mới FDI vào châu Á giảm 43,5%, sáp nhập và mua lại giảm 21,9%.

Mặc dù vẫn là nhà đầu tư vào trong khu vực châu Á lớn nhất, lượng đầu tư của Trung Quốc lại giảm mạnh (70,2%) năm 2017, tác động lớn đến các dịch vụ tài chính và bất động sản. Những nền kinh tế chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ sự sụt giảm đầu tư này là Ấn Độ, Việt Nam, Malaysia và Australia.

Một nước khác đã từng là nhà đầu tư lớn nhất vào châu Á cũng có đã FDI giảm trong năm 2017 là Mỹ với 36,6%. Sự giảm sút tới từ hai quốc gia này chiếm khoảng 59,2% lượng giảm sút FDI đầu tư mới và mua lại, sáp nhập vào châu Á.

Lượng FDI đầu tư mới sụt giảm rất đang quan ngại, do nhiều quốc gia châu Á đã tận dụng nó như một cơ hội để tạo thêm nhiều việc làm, đặc biệt là nguồn nhân lực trong các ngành công nghiệp chế tạo.

Đông Nam Á là khu vực duy nhất của châu Á có lượng FDI đầu tư vào không bị sụt giảm

Số liệu của cán cân thanh toán chỉ ra rằng hơn một nửa lượng FDI đầu tư vào châu Á chảy về khu vực Đông Á. Đông Nam Á chiếm 26,1%, Nam Á và Trung Á mỗi nơi nhận 9% trong khi con số đó của khu vực Thái Bình Dương chỉ dưới 3%. Trong năm 2017, lượng FDI đầu tư vào tất cả các khu vực đều giảm, ngoại trừ Đông Nam Á tăng 12,1% so với năm 2016, tương ứng 14,5 tỷ USD, đạt mức 135,2 tỷ USD.

Indonesia là nước nhận được lượng FDI tăng đột biến, gấp 6 lần so với năm 2016. Nguồn FDI đầu tư vào Myanmar, Philipines, Thái Lan và Việt Nam cũng tăng lên gần 44,9%.

Nguyên nhân một phần là do các công ty Trung Quốc ngày càng gia tăng độ phủ sóng tại thị trường Đông Nam Á, chủ yếu qua hình thức sáp nhập và mua lại, điển hình là thương vụ Tập đoàn Alibaba mua lại PT Tokopedia của Indonesia với giá 1,1 tỷ USD.

Những xu thế chính của dòng vốn FDI tại châu Á - Ảnh 1.

Xu thế FDI đầu tư vào Việt Nam

Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, lượng FDI cam kết đầu tư trong 8 tháng đầu năm nay của Việt Nam đạt 24,35 tỷ USD, tăng 4,2% so với cùng kì năm trước. Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore là các nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam, chiếm hơn 65% tổng lượng FDI.

Những xu thế chính của dòng vốn FDI tại châu Á - Ảnh 2.

Theo xu thế, các lĩnh vực sản xuất truyền thống như điện tử, hàng may mặc, giày dép,… sẽ tiếp tục thu hút nhiều nhà đầu tư. Bên cạnh đó, với tốc độ đô thi hóa và tăng thu nhập cá nhân nhanh, những lĩnh vực như giáo dục, bất động sản, bán lẻ, thực phẩm, thương mại điện tử và FMCG sẽ tiếp tục tăng trưởng trong năm 2018.

Và với những điều kiện như môi trường kinh doanh thuận lợi, nhiều chính sách của nhà nước khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài, trình độ dân trí không ngừng được cải thiện,… Việt Nam sẽ tiếp tục là điểm dừng chân đáng tin cậy của nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài và ngày càng nâng cao vị thế của mình trong khu vực cũng như trên toàn thế giới.

Quỹ BOG xăng dầu góp phần ổn định thị trường

Báo cáo định kỳ Quỹ Bình ổn giá (BOG) xăng dầu tháng 9/2018 được Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) mới công bố cho thấy, số dư đầu kỳ tính theo lũy kế từ ngày 1/1 đến hết ngày 30/9 là trên 3.040  tỷ (3.040.080.594.878 đồng).

Số trích lập tính đến 30/9 là trên 1.601 tỷ đồng (1.601.067.372.121 đồng). Số chi sử dụng tính theo lũy kế từ ngày 1/1 đến hết ngày 30/9 là trên 2.863 tỷ đồng (2.863.851.962.280 đồng).

Như vậy, tính đến hết ngày 30/9, số dư cuối kỳ của Quỹ Bình ổn xăng dầu còn trên 1.787 tỷ đồng (1.787.161.448.506 đồng).

Quỹ BOG xăng dầu góp phần ổn định thị trường - Ảnh 1.

Lãnh đạo Bộ Công Thương đánh giá cao vai trò của Quỹ BOG xăng dầu. (Ảnh minh họa: VnEconomy)

Trước đó, tại buổi họp báo thường kỳ của Bộ Công Thương ngày 17/10, Thứ trưởng Bộ Công Thương – ông Đỗ Thắng Hải cho hay, từ đầu năm đến thời điểm ngày 17/10 đã có 19 kỳ điều hành giá; trong đó chỉ có 2 lần giảm giá và có tới 10 lần ghìm giữ giá xăng dầu thông qua Quỹ BOG, với tổng số tiền hơn 5.500 tỷ đồng đã được chi ra.

Ông Hải đánh giá, hoạt động của Quỹ BOG xăng dầu thời gian qua đã khá hiệu quả trong công tác điều hành giá xăng dầu, góp phần kiểm soát giá các mặt hàng, qua đó góp phần ổn định thị trường, kiểm soát lạm phát.

“Ở Việt Nam, chỉ cần giá xăng tăng, môt số mặt hàng không liên quan cũng tăng giá, ảnh hưởng đến đời sống người dân, đầu vào của doanh nghiệp và CPI. Trong kỳ điều hành giá xăng dầu mới nhất, Liên Bộ Công Thương – Tài chính quyết định không chi Quỹ BOG xăng bởi giá xăng dầu thế giới tăng quá cao. Thời gian tới, việc điều hành mặt hàng này như thế nào phải phụ thuộc vào tình hình thực tiễn giá xăng dầu thế giới cũng như số tiền còn trong Quỹ BOG”, Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải nói./.

Theo Nguyễn Quỳnh

VOV

Tiểu sử ông Nguyễn Mạnh Hùng, tân Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông

Sáng nay, 24/10, trong khuôn khổ ngày làm việc thứ 3 của Kỳ họp thứ Sáu Quốc hội khóa XIV, Quốc hội đã bỏ phiếu phê chuẩn việc bổ nhiệm chức vụ Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông đối với ông Nguyễn Mạnh Hùng.

Trước đó, trong chiều 23/10, Quốc hội đã nghe tờ trình của Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn việc bổ nhiệm chức vụ Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông đối với ông Hùng.

Tiểu sử ông Nguyễn Mạnh Hùng, tân Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông - Ảnh 1.

Với đa số phiếu tán thành, Quốc hội đã phê chuẩn việc bổ nhiệm chức vụ Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông đối với ông Nguyễn Mạnh Hùng.

Sau đó, Tổng Thư ký Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc trình bày Nghị quyết phê chuẩn việc bổ nhiệm chức vụ này với ông Nguyễn Mạnh Hùng. Kết quả biểu quyết cho thấy có 461/469 đại biểu Quốc hội có mặt (bằng 95,05%) thông qua Nghị quyết.

Tiểu sử ông Nguyễn Mạnh Hùng, tân Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông - Ảnh 2.

Tiểu sử của Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng, tính đến tháng 7/2018 

Tiểu sử ông Nguyễn Mạnh Hùng, tân Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông - Ảnh 3.

T.Công

Theo Trí thức trẻ

Phê chuẩn ông Nguyễn Mạnh Hùng giữ chức vụ Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông

8h15 phút sáng 24/10, Quốc hội bắt đầu bỏ phiếu phê chuẩn việc bổ nhiệm chức vụ Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông đối với ông Nguyễn Mạnh Hùng.

Trước đó, chiều 23/10, Quốc hội phê chuẩn việc miễn nhiệm chức vụ Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông đối với ông Trương Minh Tuấn và giới thiệu ông Hùng giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông.

Kết quả kiểm phiếu có 430/473 đại biểu tán thành, 42 vị không tán thành, 1 phiếu không hợp lệ.

Sau đó Quốc hội đã thông qua nghị quyết về việc phê chuẩn bổ nhiệm ông Nguyễn Mạnh Hùng giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ thông tin và truyền thông nhiệm kỳ 2016 – 2021 với 95,05% đại biểu tán thành. Nghị quyết có hiệu lực ngay khi thông qua.

Ông Nguyễn Mạnh Hùng năm nay 56 tuổi, quê ở Phú Thọ, tốt nghiệp chuyên ngành điện tử viễn thông ở Liên Xô, thạc sỹ viễn thông ở Australia, thạc sỹ quản trị kinh doanh ở đại học kinh tế quốc dân.

Ông Hùng đảm nhiệm chức vụ Tổng giám dốc Viiettel từ 2014, đến giữa tháng 6/2018 thì được bổ nhiệm làm Chủ tịch kiêm Tổng giám độc Tập đoàn.

Cuối tháng 7/2018. Bộ Chính trị đã phân công ông Nguyễn Mạnh Hùng giữ chức quyền Bộ trưởng, Bí thư Ban Cán sự Đảng Bộ Thông tin và Truyền thông kiêm Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương.

Theo Nguyên Vũ

Vneconomy

Cần đo hiệu quả công việc có đáng không?

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hiện, tiền công/tiền lương của đối tác Nhật Bản khi ước tính ngân sách cho các dự án sử dụng vốn vay Nhật Bản trong năm tài chính 2018 là khoảng 30.000 USD/tháng/người (+/- 10%), tức là quy ra tiền Việt, mỗi người được trả gần 700 triệu đồng/tháng, chưa bao gồm phụ cấp.

Lương 700 triệu đồng/tháng: Cần đo hiệu quả công việc có đáng không? - Ảnh 1.

Cầu Nhật Tân (Hà Nội) được xây dựng từ nguồn vốn ODA của Nhật Bản.(Ảnh: Kuno/JICA)

Nhiều ý kiến cho rằng, mức lương trung bình cho chuyên gia Nhật Bản làm việc tại các dự án sử dụng vốn vay ODA là quá cao và chiếm tỷ trọng cao quá mức cần thiết trong tổng chi phí của các khoản vay của Nhật Bản; việc giảm lương của chuyên gia Nhật Bản nên được cân nhắc, trong đó các chuyên gia Việt Nam nên được chỉ định tham gia các bước cần thiết.Mức lương này đang cao hơn khoảng 20-25% so với mức lương trung bình của tư vấn nước ngoài trong các dự án sử dụng vốn vay ODA khác, thậm chí còn cao gấp đôi so với thu nhập kê khai nộp thuế bình quân của người có quốc tịch Nhật Bản làm việc tại Việt Nam năm 2016.

Lương 700 triệu đồng/tháng: Cần đo hiệu quả công việc có đáng không? - Ảnh 2.

Ông Hoàng Văn Cường – phó hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân – trả lời phỏng vấn của phóng viên VOV.VN bên hành lang Quốc hội sáng 22/10/2018.

Bình luận về vấn đề này, ông Hoàng Văn Cường – Phó hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân – cho rằng: “Chúng ta không thể nói là lương chuyên gia Nhật quá cao hay quá thấp, mà vấn đề quan trọng là phải đánh giá xem từng chuyên gia nhận lương đó được giao nhiệm vụ gì. Và tương ứng với nhiệm vụ, công việc đó thì có xứng đáng phải trả lượng tiền như thế hay không”.

Ông Cường cũng lưu ý, nếu các chuyên gia đó đảm nhận được những vị trí hết sức trọng trách mà không thể có người thay thế thì rõ ràng người ta có quyền được hưởng mức lương cao. Tuy nhiên, “nếu chỉ vì dự án nhận nguồn vốn tài trợ của nhà tài trợ vốn mà chúng ta phải trả tiền lương và buộc lòng phải thuê các chuyên gia đó với mức lương cao trong khi chúng ta có thể thuê các chuyên gia trong nước thì việc đó là không hợp lý”.

Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA), đơn vị đại diện cho Nhật Bản trong việc hợp tác, phát triển ODA, thì cho rằng, mức tiền lương cho tư vấn được xác định dựa trên trình độ chuyên môn và kinh nghiệm toàn cầu, do đó, nó không phải là một đơn giá cố định. Hơn nữa, trong quá trình tham vấn, JICA cũng thảo luận kỹ lưỡng với phía Việt Nam về tính phù hợp của đơn giá này với các định mức chi phí của Việt Nam.

Theo giải thích của JICA, “mức lương thực tế hàng tháng sẽ được xác định dựa trên kết quả lựa chọn nhà thầu thông qua đấu thầu cạnh tranh. Chúng tôi đưa ra các hướng dẫn về đơn giá nhằm ước tính chi phí, nhưng đơn giá này cũng không thể nằm ngoài phạm vi cho phép và phía Việt Nam cũng như JICA luôn xem xét cẩn thận đơn giá này trong thời gian thẩm định”.

JICA cũng đồng ý với ý tưởng rằng Chính phủ Việt Nam sẽ thúc đẩy sự tham gia của các chuyên gia tư vấn địa phương trong các dự án ODA ở Việt Nam./.

Theo Trần Ngọc

VOV

Xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ đã đạt trên 35 tỷ USD

Kể từ khi Hiệp định thương mại Việt Nam – Mỹ có hiệu lực từ năm 2000 đến nay, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Mỹ liên tục tăng trưởng ở mức cao. Nếu như năm 2000, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ chỉ vào khoảng 730 triệu USD, thì đến năm 2017 con số này đã lên đến 41,6 tỷ USD.

So với năm 2017, trong 9 tháng/2018, Việt Nam có 7 nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Mỹ đạt trên 1 tỷ USD, giảm 1 nhóm hàng ( do kim ngạch xuất khẩu hàng túi xách, ví va li, mũ, ô dù chỉ đạt 952 triệu USD.

Hàng dệt may là nhóm hàng dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ với kim ngạch 10,33 tỷ USD, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước và chiếm gần 46% tổng trị giá xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang Mỹ.

Xuất khẩu giày dép đạt 4,27 tỷ USD, tăng 13,5%  so với cùng kỳ năm trước và chiếm 12,2%.

Điện thoại các loại và linh kiện trong tháng 9/2018 đạt 619 triệu USD, nâng trị giá xuất khẩu 9 tháng 2018 lên 4,12 tỷ USD, tăng mạnh 43,6% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 11,8%.

Gỗ và sản phẩm gỗ  trong tháng 9/2018 đạt 337 triệu USD, nâng trị giá xuất khẩu 9 tháng 2018 lên 2,73 tỷ USD, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 7,8%.

Xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện trong tháng 9/2018 đạt 235 triệu USD, nâng trị giá xuất khẩu 9 tháng 2018 lên 2,07 tỷ USD, giảm 14,1% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 5,9%.

Hai nhóm hàng còn lại đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD trong 9 tháng/2018 là: máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng (2,34 tỷ USD, tăng mạnh 29,6%); hàng thủy sản (1,14 tỷ USD, tăng 9,2%).

Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cũng cho thấy, trị giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam có xuất xứ từ Hoa Kỳ trong 9 tháng/2018 là 9,55 tỷ USD, tăng mạnh 36,9% so với 9 tháng/2017 và chiếm 5,5% tổng trị giá hàng hóa nhập khẩu của cả nước. ​

Tân Chủ tịch nước: “Tôi vừa mừng, vừa lo”

Với đa số phiếu tán thành, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã được bầu làm Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam. Phát biểu sau tuyên thệ nhậm chức, ông bày tỏ nhiều hơn về nỗi lo trước những thách thức to lớn của đất nước. So với 12 năm trước, khi được bầu làm Chủ tịch Quốc hội, ông nói rằng mình có phần lo lắng hơn.

Sẽ “mở nút” 168 thủ tục gây khó cho tổ chức, cá nhân

Các đơn vị chuyên môn của Bộ Tài chính đã xây dựng được phương án và đang trình lãnh đạo bộ xem xét cắt giảm đơn giản hóa các thủ tục không cần thiết, gây khó cho tổ chức, cá nhân.

Cắt thêm 177 điều kiện kinh doanh

Trả lời báo chí ngày 23/10, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng cho hay, trong giai đoạn 2011-2015, Bộ Tài chính đã thực hiện rà soát và cắt giảm 248 thủ tục hành chính và đơn giản hóa 962 thủ tục.

Tiếp đó, từ năm 2016 đến 2/10/2018, Bộ Tài chính đã thực hiện rà soát cắt giảm 174 thủ tục hành chính và đơn giản hóa 888 thủ tục hành chính. Trong số này, riêng lĩnh vực thuế đã cắt giảm được 95 thủ tục và đơn giản hóa 300 thủ tục, lĩnh vực hải quan cũng cắt giảm 42 thủ tục và đơn giản hóa 181 thủ tục.

Kết quả, đến tháng Mười năm nay, bộ thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài chính còn 997 thủ tục hành chính, trong đó lĩnh vực thuế có 298 thủ tục, hải quan có 183 thủ tục, chứng khoán là 184 thủ tục, Kho bạc Nhà nước còn 22 thủ tục, còn lại là 300 thủ tục các lĩnh vực tài chính khác.

Theo Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng, để tiếp tục cải cách hành chính, Bộ Tài chính đã chỉ đạo rà soát, đơn giản hóa, cắt giảm, bãi bỏ những thủ tục không cần thiết, gây khó khăn cho tổ chức, cá nhân.

Các đơn vị chuyên môn của Bộ Tài chính đã xây dựng được phương án và đang trình lãnh đạo bộ xem xét cắt giảm trên 140 thủ tục hành chính và đơn giản hóa 28 thủ tục. Cụ thể, lĩnh vực thuế dự kiến cắt giảm 7 thủ tục, đơn giản hóa 2 thủ tục. Lĩnh vực hải quan sẽ cắt giảm và đơn giản hóa 14 thủ tục, ngành kho bạc có 22 thủ tục, chứng khoán là 36 thủ tục, còn lại 93 thủ tục các lĩnh vực tài chính khác.

“Đồng thời, Bộ Tài chính đang trình Chính phủ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định về điều kiện đầu tư, kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tài chính, dự kiến sẽ cắt giảm 117 điều kiện kinh doanh trong phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tài chính,” Bộ trưởng Bộ Tài chính nói.

Sẽ hợp nhất một loạt chi cục thuế

Ở hướng khác, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cho hay, từ đầu năm 2013 đến tháng 10/2018, Bộ Tài chính đã cắt giảm gần 3.000 đầu mối các đơn vị từ cấp Trung ương đến cấp tổ (đội) tại địa phương. Trong số này, bộ đã thực hiện giảm 180 đầu mối cấp phòng và tương đương và khoảng 2.800 đầu mối cấp tổ (đội) tại địa phương

Ông cũng tính toán, số các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc và trực thuộc Bộ Tài chính đã giảm từ 35 đơn vị (cuối năm 2016) xuống còn 28 đơn vị do đã tổ chức lại, giải thể, dừng hoạt động.

Riêng về số chi cục, theo Bộ trưởng, Bộ Tài chính đã thực hiện cắt giảm 53 Chi cục và tương đương thuộc các cục địa phương. Cụ thể, bộ đã giải thể 1 chi cục hải quan; hợp nhất, sáp nhập 10 chi cục dự trữ Nhà nước thành 5 chi cục; giải thể 43 phòng giao dịch trực thuộc Kho bạc Nhà nước các tỉnh và hợp nhất 7 chi cục thuế thành 3 chi cục thuế khu vực.

Riêng về các chi cục thuế, theo Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng, việc hợp nhất 7 chi cục thuế huyện thành 3 chi cục thuế khu vực được tiến hành tại các đơn vị thuộc Cục thuế tỉnh Quảng Ninh.

Trong tháng Mười, Bộ trưởng cho biết sẽ tiếp tục thực hiện hợp nhất chi cục thuế khu tại các tỉnh Hải Dương, Yên Bái, Quảng Ngãi, Lâm Đồng và Cà Mau.

Nói thêm về thời gian tới, Bộ trưởng khẳng định sẽ tiếp tục đẩy mạnh triển khai công tác cải cách hành chính, cải cách thủ tục hành chính. Mục tiêu theo ông là phấn đấu các chỉ số cải cách đạt chuẩn xếp hạng các nước ASEAN 4 và hướng tới tiêu chuẩn của các nước OECD./.

NCIF dự báo 2 kịch bản cho tăng trưởng kinh tế 2019

Theo đó, những tháng cuối năm 2018, kinh tế Việt Nam sẽ được tiếp đà tăng trưởng khả quan từ 9 tháng đầu năm: Nhiều ngành kinh tế lớn bước vào chu kỳ tăng trưởng nhanh như công nghiệp chế biến, chế tạo; bán buôn, bán lẻ; kinh doanh bất động sản… tạo điều kiện thuận lợi để duy trì đà tăng trong các quý còn lại của năm.

Diễn biến kinh tế thế giới có nhiều yếu tố là hậu thuẫn tích cực cho tăng trưởng của Việt Nam bao gồm: Triển vọng tăng trưởng khả quan của kinh tế thế giới trong đó đặc biệt từ triển vọng kinh tế Mỹ, đồng thời tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế vẫn đang được đẩy nhanh.

Ngoài ra, với 16 hiệp định FTA đã và đang được đàm phán kí kết, 10 hiệp định FTA đã có hiệu lực, thị trường tiêu thụ của Việt Nam đang ngày càng mở rộng, tạo cơ hội gia tăng nhu cầu đối với hàng Việt Nam.

Tuy nhiên, theo NCIF, bên cạnh những yếu tố tích cực, nền kinh tế vẫn còn tồn tại nhiều yếu tố tiêu cực, có thể ảnh hưởng tới khả năng tăng trưởng.

Theo đó, về dài hạn, nền kinh tế vẫn thiếu hụt các động lực tăng trưởng chính trong khi áp lực lạm phát tăng lên, hạn chế dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ để thúc đẩy tăng trưởng.

Bên cạnh đó, xu hướng bảo hộ thương mại và hàng rào phi thuế quan ngày càng gia tăng. Diễn biến thị trường ngoại hối khó lường. Môi trường đầu tư và năng lực cạnh tranh của Việt Nam mặc dù đã được cải thiện nhưng hiện vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài.

Chưa kể, môi trường đầu tư và năng lực cạnh tranh của Việt Nam mặc dù đã được cải thiện nhưng hiện vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài.

Trên cơ sở đánh giá tình hình kinh tế-xã hội 9 tháng đầu năm 2018 cũng như xem xét các yếu tố có thể tác động đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam những tháng cuối năm 2018 và cả năm 2019, NCIF xây dựng 2 kịch bản dự báo kinh tế 2018 và 2019.

Cụ thể, ở kịch bản 1, GDP tăng thấp hơn ở mức 6,83%, lạm phát được dự báo đạt mức 4%, bằng với mục tiêu đã đề ra từ đầu năm.

Đối với kịch bản cở sở, mức tăng trưởng dự báo cao hơn với 7,01%, lạm phát được dự báo tương ứng cũng ở mức tăng cao hơn, từ 4-4,2%, nhỉnh hơn chỉ tiêu kiểm soát lạm phát năn 2018 đã được Quốc hội phê duyệt.

Với năm 2019, 2 kịch bản của cơ quan này cho thấy GDP sẽ tăng trưởng ở mức 6,9 hoặc 7,1%, tương ứng với đó lạm phát ở mức 4% và 4,5%.

Liên quan chỉ tiêu kinh tế 2019, báo cáo trước Quốc hội vào tại phiên khai mạc kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV ngày 22/10, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cho biết, Chính phủ đặt mục tiêu năm 2019 tiếp tục củng cố nền tảng vĩ mô, kiểm soát lạm phát, nâng cao năng lực nội tại và tính tự chủ của nền kinh tế.

Các chỉ tiêu cụ thể bao gồm: Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 6,6 – 6,8%; Tốc độ tăng giá tiêu dùng (CPI) bình quân khoảng 4%; Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 7 – 8%; Tỷ lệ nhập siêu so với tổng kim ngạch xuất khẩu dưới 3%; Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội khoảng 33 – 34% GDP.

Trước đó, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương đưa ra kết quả dự báo cho thấy, tăng trưởng kinh tế năm 2018 có thể đạt tới mức 6,88%, tăng trưởng XK cả năm dự báo ở mức 13,3%, thặng dư thương mại dự báo ở mức 5,1 tỷ USD và lạm phát bình quân năm 2018 đạt 3,97%.

Còn PGS.TS Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) cho rằng, với mức tăng trưởng tích cực 6,88% của quý III, mục tiêu tăng trưởng 6,5-6,7% của năm 2018 do Quốc hội đề ra hầu như chắc chắn sẽ thực hiện được.

Theo đó, nhiều khả năng kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng hơn 6,8% trong năm nay. Theo đó, VEPR dự báo trong quý IV tăng trưởng GDP sẽ ở mức 6,56% và cả năm sẽ rơi vào khoảng 6,84%.